Thống kê sơ bộ tại 14 doanh nghiệp là các tập đoàn lớn có vốn nhà nước nắm giữ tỷ lệ sở hữu từ 65% đến 100% cho thấy hầu hết đều nắm giữ lượng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng dồi dào.
Tập đoàn VNPT tính đến cuối tháng 6/2026 sở hữu hơn 62.000 tỷ đồng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Con số này tương đương 53% tổng tài sản.
Một công ty mạng công nghệ viễn thông khác là Tổng CTCP Đầu tư Quốc tế Viettel (Viettel Global – UPCOM: VGI) – thành viên của Tập đoàn Viettel - cũng sở hữu “núi tiền” khổng lồ.
Cuối tháng 6/2026, doanh nghiệp đang nắm giữ 10.934 tỷ đồng tiền và các khoản tương đương tiền, cùng hơn 32.800 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn. Tổng lượng tiền nhàn rỗi này chiếm 47% tổng tài sản.
Ngành dầu khí cũng là ngành kinh doanh đặc thù, giúp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Nhóm các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán họ nhà “P” này cũng nắm trong tay lượng tiền đáng kể.
Như CTCP Lọc hóa dầu Bình Sơn (Mã: BSR) – đơn vị sở hữu một trong hai nhà máy lọc dầu tại Việt Nam với chức năng sản xuất, phân phối xăng dầu tới các đầu mối - đang nắm tổng lượng tiền và tiền gửi hơn 53.700 tỷ đồng. Trong đó hơn 47.000 tỷ đồng là tiền gửi ngân hàng và 6.660 là tiền mặt. Tỷ lệ tiền trên tổng tài sản đạt hơn 51% tại cuối quý II/2026, tức là hơn một nửa tài sản của BSR là tiền tươi và tiền bỏ vào ngân hàng.
Tương tự, Tổng Công ty khí Việt Nam-CTCP (PV GAS - Mã: GAS) ghi nhận tổng cộng hơn 45.000 tỷ đồng tiền nhàn rỗi, trong đó riêng đi gửi ngân hàng là 42.000 tỷ. Tỷ lệ tiền trên tổng tài sản ở mức 44%.
Các doanh nghiệp ngành dầu khí như Petrolimex (Mã: PLX) hay PV Power (Mã: POW) cũng sở hữu lượng tiền dồi dào lên tới lần lượt 17.800 tỷ và 26.500 tỷ đồng.
Bên cạnh nhóm dầu khí, doanh nghiệp nhà nước đang quản lý và vận hành 22 cảng hàng không trên cả nước là Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (Mã: ACV) cũng giữ cho mình một lượng tiền và tiền gửi gần 10.800 tỷ đồng, tương đương 11% tổng tài sản.
Hay hãng hàng không quốc gia Vietnam Airlines (Mã: HVN) cũng đang dành 24% trong tài sản cho các khoản có tính thanh khoản cao, với hơn 19.000 tỷ đồng. Tại Vietnam Airlines, nhà nước đang nắm 86,4% vốn điều lệ.
Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC - Mã: MVN) – doanh nghiệp chủ lực ngành hàng hải, sở hữu mạng lưới doanh nghiệp trải rộng trên cả nước với hàng loạt cảng biển lớn như Cảng Hải Phòng, Cảng Sài Gòn, Cảng Đà Nẵng, Cảng Quy Nhơn, Cảng Cần Thơ, Cảng Cam Ranh..., cùng các doanh nghiệp vận tải biển, logistics và dịch vụ hàng hải. Đây được xem là lợi thế cạnh tranh mà rất ít doanh nghiệp logistics trong nước có được.
Tới cuối quý II/2026, khoảng 30% tổng tài sản của VIMC là tiền và tiền gửi ngân hàng, tương đương con số khoảng 11.100 tỷ đồng.
Một trường hợp đặc biệt khác là Tổng công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam (VEAM – Mã: VEA). Doanh nghiệp này thường xuyên duy trì lượng tiền lớn với khối tiền và tiền gửi ngân hàng lên đến gần 18.000 tỷ đồng, chiếm 56% trong tổng tài sản (hơn 32.000 tỷ đồng).
“Núi tiền” này hằng năm giúp VEAM ghi danh vào top những công ty nhiều tiền nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam.
Lượng tiền duy trì thường xuyên này đã gấp 4- 5 lần tổng doanh thu mà VEAM tạo ra hằng năm.
Điều đáng nói là hoạt động kinh doanh của VEAM những năm qua không có gì bứt phá, thậm chí doanh thu còn đi lùi do sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành ô tô. Tuy nhiên, nhờ nguồn cổ tức từ các công ty liên doanh (Honda, Toyota, Ford,…) nên mỗi năm VEAM đều đặn nhận về 5.000 – 7.000 tỷ đồng, qua đó duy trì được khối tiền gửi lớn.
Vì sao luôn duy trì lượng tiền lớn?
Từng có ý kiến cho rằng doanh nghiệp nhà nước gửi lượng lớn tiền mặt tại ngân hàng xuất phát từ tâm lý thận trọng đầu tư, do giải ngân chậm... Song thực tế, đối với các doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, việc duy trì lượng tiền hàng chục nghìn tỷ đồng có ý nghĩa lớn. Bởi những tập đoàn như điện lực, dầu khí hay xăng dầu nếu gặp tình trạng thiếu tiền trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng tới cả chuỗi cung ứng.
Mặt khác, đặc thù của các doanh nghiệp này là có dòng tiền lớn, nhất là nhóm năng lượng, dầu khí, điện, viễn thông, hạ tầng... Khoản thu về thường rất lớn trong khi các dự án đầu tư cần thời gian để chuẩn bị, phê duyệt, đấu thầu, giải phóng mặt bằng...
Nếu doanh nghiệp tư nhân có mục tiêu tối thượng là lợi nhuận, chủ sở hữu có thể quyết định nhanh việc sử dụng vốn thì doanh nghiệp nhà nước vừa đảm bảo phải kinh doanh hiệu quả, vừa thực hiện nhiệm vụ chiến lược nhà nước. Các quyết định đầu tư cũng phải được phê duyệt theo quy trình.
Trong thời gian chờ giải ngân các dự án, tiền sẽ không thể nằm yên trong két sắt, mà hầu hết sẽ được DNNN tối ưu gửi ngân hàng để vừa bảo toàn vốn vừa có thêm lãi tiền gửi. Trong khi đó một phần sẽ giữ lại dưới dạng tiền mặt để đảm bảo phục vụ vốn lưu động, đảm bảo tính thanh khoản.
Thống kê cho thấy với hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng cũng đã mang lại nguồn doanh thu tài chính từ lãi tiền gửi cho doanh nghiệp nhà nước từ vài trăm đến hơn nghìn tỷ đồng. Qua đó tối ưu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đáng nói, sở hữu lượng tiền lớn, song nhiều tập đoàn cũng không ngần ngại sử dụng đòn bẩy, với khoản dư nợ đi vay có thể ngang ngửa lượng tiền nắm giữ.
Việc vừa nắm giữ lượng tiền lớn, vừa duy trì dư nợ vay cao không phải là nghịch lý, mà khá phổ biến ở các tập đoàn quy mô lớn. Thay vì sử dụng toàn bộ lượng tiền sẵn có để tất toán các khoản vay, doanh nghiệp thường cân đối giữa yêu cầu thanh khoản, nhu cầu vốn lưu động và chi phí sử dụng vốn. Cách vận hành này có thể xem là “một mũi tên trúng nhiều đích”.
Thứ nhất, khi các tập đoàn Nhà nước gửi lượng tiền lớn vào ngân hàng, dòng vốn này góp phần bổ sung thanh khoản cho hệ thống tín dụng. Nguồn tiền sau đó có thể được ngân hàng đưa trở lại nền kinh tế thông qua hoạt động cho vay.
Thứ hai, chính các khoản tiền gửi này cũng tạo thêm nguồn thu nhập lãi cho doanh nghiệp, trong khi ngân hàng có thêm nguồn vốn để phục vụ hoạt động tín dụng.
Ở chiều ngược lại, khi ngân hàng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước, khoản lãi vay mà doanh nghiệp chi trả trở thành nguồn thu cho bên cho vay, góp phần cải thiện hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Với các tập đoàn nhà nước có quy mô lớn, uy tín và lịch sử tín dụng tốt, chi phí vay thường ở mức tương đối thấp. Nếu lãi suất thu được từ tiền gửi cao hơn chi phí lãi vay, doanh nghiệp có thể hưởng phần chênh lệch này, qua đó tạo thêm thu nhập tài chính và đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận sau thuế.
Chẳng hạn như BSR – doanh nghiệp có số dư tiền gửi hơn 47.600 tỷ đồng đã nhận về 1.055 tỷ đồng từ lãi tiền gửi ngân hàng trong nửa đầu năm 2026.
Trong khi đó, số dư vay nợ (hoàn toàn là ngắn hạn) hơn 12.700 tỷ đồng, song chi phí lãi vay chỉ 175 tỷ đồng trong nửa đầu năm. Tính ra, doanh nghiệp đã lãi ròng 880 tỷ đồng từ hoạt động tài chính.